Liên hệ với webhoidap.com
Web hỏi đáp - Hỏi ngay đáp hay
›  
›  
›  
›  
Lễ hội đền Thượng làng Tử Du - Lập Thạch, Vĩnh......
 

Lễ hội đền Thượng làng Tử Du - Lập Thạch, Vĩnh Phúc?

Ngày gửi: 17/07/2013
Xem: 232
Trả lời cho câu hỏi này
Trong hàng vạn lễ hội trên cả nước thường kéo dài từ một hai ngày đến hai, ba tháng mùa xuân, ngày nào cũng nườm nượp hàng vạn người hành lễ, thì lễ hội đền Thượng của làng Tử Du, xã Tử Du, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc chỉ là hội khuyến nông khiêm nhường của một làng nhỏ nơi khất lấp đồi núi, nhằm hướng bà con vào công việc ruộng đồng và gắn kết tình làng nghĩa xóm...
 
Theo ngọc phả do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm Hồng Phúc thứ nhất, 1572 ( Lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội, ký hiệu TT,TSFQ40-18XIII76) thì đền Thượng của làng Tử Du được dựng vào thời nhà Lê, kiến trúc theo lối nhà sàn quen thuộc ở vùng thượng du, thờ ba vị sơn thần: Quyển hựu Linh ứng Đại vương, Chính trị Linh ứng Đại vương, Đôn lĩnh Linh ứng Đại vương, là con cháu thời Hùng Chiêu Tuấn Vương, âm phù vua dẹp giặc Thục, công lao hiển hách, nên hóa được vua ban sắc phong Trung đẳng thần (Bản ghi chép về Thần tích, Thần sắc được xã sao lại năm 1937, lưu trữ tại Viện Hán Nôm). Hậu cung đền Thượng có ba bộ long ngai làm bằng gỗ, sơn son thiếp vàng, chạm trổ lưỡng long chầu nguyệt, vân xoắn, họa tiết hoa cúc, cánh sen, hoa chanh, tay ngai chạm đầu rồng, đế mộc dục. Vì dưới dáy ngai có hai chữ Hùng Nương, nên đồ rằng đền Thượng còn lại hôm nay đã dựng trên nền của ngôi đền được dựng từ thời tổng Tử Du thuộc bộ Văn Lang, Âu Lạc. Ba bộ long ngai có chữ Hùng Nương là do công chúa thời vua Hùng hiến tế. Trong thời Bắc thuộc, vì đền thờ ba vị đại vương có công dẹp giặc phương Bắc, nên bị phá, đến thời nhà Lê, đền Thượng được phục dựng trên nền đền cũ. Bộ long ngai do Hùng Nương hiến tế cũng được phục chế và gìn giữ đến nay.
 
Bấy giờ, năm Hồng Phúc thứ nhất, tổng Tử Du là trung tâm của ngũ xã phía bắc huyện Lập Thạch, thường diễn ra các lễ hội, vì thế chỉ trong chu vi 1,5 km2 quanh đền Thượng còn có nhiều công trình kiến trúc như đền Hạ, thờ Thánh Bà là công chúa Tiến Hoa, cháu vua Hùng, phù bà Trưng Trắc đánh giặc Tô Định, đến đời vua Trần Thái Tôn, ngài hiện ứng âm phù đánh thắng quân Ô Mã Nhi. Đền có bát hương, chuông đồng, nhiều hoành phi, câu đối và đồ tế khí sơn son thiếp vàng. Đền Thượng và đền Hạ đối nhau một vùng ruộng, có con đường làng chạy cắt qua. Đường có cầu Ngõa bằng đá, trên cầu dựng quán ba gian, lợp lá, sàn gỗ rộng rãi, thoáng mát cho người hành lễ nghỉ chân, sửa lễ trước khi vào đền dâng hương. Đầu đường làng, trên khoảnh đất rộng, trung tâm của cả ba thôn Sùng Khâu, Ngọc Nữ, Đà Hoằng (từ sau năm 1945, qua nhiều lần tách nhập địa giới hành chính, tên thôn được ghi gọn là làng Khâu, làng Nứa, làng Vằng) có ngôi đình lớn, thờ Thành Hoàng, là nơi sinh hoạt cộng đồng được xây dựng từ thời Tự Đức,1848. Đình làng to, rộng, cột lim tròn, chân cột đặt trên thớt đá, vì, kèo, xà ngang, xà dọc gỗ lim, đục chạm dây hoa, lá trúc, chim phượng và vân mây tinh xảo. Tường đình xây gạch, mái lợp ngói mũi hài, hai đầu hồi xây bít đốc, bốn góc đầu đao cong, sân lát gạch đỏ, hai bên sân có hai khu nhà tiền tế. Ban thờ ở gian giữa đình có hương án, tàn lọng, bát hương, bình hương, bình hoa, cây nến, bồ đài, đài rượu, mâm bồng, giá gươm. Hai bên ban thờ có giá cắm tàn lọng, lộ bộ, cờ quạt, hạc chầu. Đình được xây dựng dựa trên thuật phong thủy, tựa lưng vào đồi, cửa đình có cây gạo đại thụ quanh năm xanh tốt, nhìn qua vùng ruộng thoáng đãng là sườn núi có ba giếng đá, gọi là giếng Ba Cô. Tương truyền một: Ngày xa xưa, hội làng vui Tử Du đông vui, có ba tiên nữ lén xuống xem. Mải vui, trời sang lúc nào không biết, nên ba cô không thể bay về trời được nữa, lên núi ngồi khóc. Nước mắt ba cô nhỏ xuống, thành ba cái giếng. Tương truyền hai: Giếng Ba Cô là do ba công chúa của vua Hùng Chiêu Tuấn Vương về hội làng Tử Du khơi giếng để lấy nước ngầm cho bà con sinh hoạt và gieo cấy. Mỗi truyền thuyết mỗi vẻ, nhưng ba cái giếng đá trên núi là một, kể cả những kỳ đại hạn, nước giếng cũng tràn trề, trong như ngọc. Sau đình làng còn có chùa thờ phật bà Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong Cách mạng tháng Tám đình chùa, đền, miếu của thôn Tử Du là địa điểm tạm trú, hội họp của bộ đội, du kích và quân báo vùng địch hậu, chuyển tin tức hoạt động từ địch tạm chiếm ra chiến khu; là nơi làm việc của tổ chức Đảng cộng sản. Tiếc thay, năm 1960, để lấy vật liệu cho việc xây dựng nơi làm việc và nhà kho của HTX, đình, chùa, đền Hạ, cầu Ngõa có mái và sàn gỗ đều bị phá, chỉ còn lại ngôi đền Thượng nhỏ trên lưng núi.
 
Hơn nửa thế kỷ từ ngày các thiết chế văn hóa truyền thống với hệ thống đình, chừa, đền, cầu, giếng bị phá, nhiều trò diễn xướng dân gian bị lãng quên, nhưng trong tình cảm của người làng Tử Du vẫn hoài nhớ về các giá trị của cha ông nên dần dần khôi phục lại trong khả năng đời sống kinh tế còn khó khăn của một làng thuần nông. Các gia đình cùng nhau đóng góp từ dăm bảy ngàn đống đến bát gạo, ngày công để làng chung sức dựng lại được một ngôi chùa nhỏ trên núi, tôn tạo đền Thượng, dựng thêm nhà tiền tế và tìm kiếm hiện vật của đền bị thất lạc qua những năm chiến tranh dài. Chừng mươi năm trở lại đây, ngày rằm tháng giêng làng tổ chức tiệc khai xuân có rước, tế tại đền Thượng, vật phẩm là các loại bánh làm bằng gạo nếp và hoa trái trong vườn nhà dâng lên tỏ lòng thành kính biết ơn các bậc tiền nhân có công giữ nước, mở mang đồng ruộng, dạy dân cày cấy năm hai vụ chiêm mùa. Từ năm 2001 đến nay, làng Tử Du còn chắt chiu tiền công đức tổ chức lễ khuyến học đền Thượng cho con em trong làng có thành tích khá, giỏi, và các em đỗ vào các trường đại học, cao đẳng.
 
Ngày 7 tháng 2 năm 2007 UBND tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định số 447/QD - UBND xếp hạng đền Thượng là Di tích lịch sử - Văn hóa cần được tổ chức, bảo vệ, tôn tạo và phát huy tác dụng theo Luật Di sản văn hóa. Để thật sự làm giàu có thêm đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của một vùng quê thuần nông các bậc cao niên của làng lựa chọn, phục hồi những nét tinh hoa của văn hóa truyền thống, để lễ hội đền Thượng là mỹ tục phù hợp với đời sống văn hóa mới, gắn kết tình làng nghĩa xóm, cùng nhau bước vào vụ mùa làm cho đất sinh sôi vì cuộc sống của mỗi gia đình no đủ và êm ấm. 
Theo nông lịch, tháng ba là vào vụ mùa cày cấy chính của năm. Vì thế, làng mở hội đền Thượng vào ngày 9-10 tháng Ba,
 
khép lại những ngày nông nhàn của năm cũ, mở ra công việc vụ mùa bận rộn của năm mới. Dịp này, long ngai được tắm rửa rồi rước về yên vị tại đền trước khi người cả làng và khách thập phương cùng tham gia các trò diễn xướng dân gian. Hai ngày hội đền Thượng có lễ dâng hương cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, làng xóm yên vui, mùa màng tươi tốt. Ngày hội đền Thượng kết thúc bằng và tiệc xuống đồng cấy lúa mùa.
comments powered by Disqus

Đăng nhập hệ thống

Tài khoản

Mật khẩu

Đăng ký | Đăng nhập

Quên mật khẩu

Facebook Web hỏi đáp